Tổng quát Tư tưởng Bát Nhã tại Việt Nam

Kinh Phật bằng Phạn bản được dịch sang Hán kể từ những thế kỷ đầu đến thế kỷ thứ mười, bởi các cao tăng Ấn Độ, Trung Hoa và Việt Nam đều có khắc in ở trong Đại Tạng Kinh đời Tống, và Đại Tạng Kinh này đã có mặt tại Việt Nam lúc bấy giờ.

 > Ý nghĩa thâm diệu và công đức của Bát Nhã Tâm Kinh

Từ Ấn Độ Phật giáo đã đi vào Việt Nam, sớm nhất có thể vào thế kỷ 3 trước T.L, do một trong những đoàn truyền giáo của vua A Dục (Aśoka). Và nếu muộn lắm là vào thời Hùng Vương trước kỷ nguyên, với sự xuất hiện của nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (hiện nay là ở cửa Sót ở Nghệ An), giảng đạo cho Chử Đồng Tử, sự kiện này được Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại như sau:

"Thời Hùng Vương, núi Quỳnh Vi, có Đồng Tử lên thảo am. Trong am có sư tên Phật Quang, đó là người Thiên Trúc, tuổi hơn bốn mươi, truyền pháp cho Đồng Tử một cái nón và một cái gậy, nói rằng: "Linh dị và thần thông đều ở đây cả".

Tại Việt Nam kể từ những thế kỷ đầu đến thế kỷ thứ mười, các kinh điển Đại thừa đã được truyền lưu rộng rãi trong mọi thành phần xã hội.

Tại Việt Nam kể từ những thế kỷ đầu đến thế kỷ thứ mười, các kinh điển Đại thừa đã được truyền lưu rộng rãi trong mọi thành phần xã hội.

Theo các nhà khảo cổ học Việt Nam, thì vào năm 1963 - 1987 đã khai quật gần 20 tràng kinh bát giác, cao từ 50 cm đến 80 cm tại vùng đất Hoa Lư, do Đinh Khuông Liễn dựng từ năm 973 - 979 gồm đến 200 tràng kinh. Nội dung của kinh được khắc vào các trụ đá là bài chú: Phật Đỉnh Tôn Thắng Gia Cú Linh Nghiệm Đà La Ni.Và khắc vào 28 câu chữ Hán, mỗi câu bảy chữ để ca ngợi công đức của bài chú này cùng với những tâm nguyện của Nam Việt Vương - Đinh Liễn khi khắc trụ đá.[11]

Theo nhà sử học Lê Mạnh Thát, các tràng kinh số 1 và 2 tìm thấy tại Hoa Lư của Đinh Liễn, tức là Phật Đỉnh Tôn Thắng Gia Cú Linh Nghiệm Đà La Ni là truyền bản được dịch bởi Kim Cang Trí và Bất Không (662 - 732).[12]

Như vậy, tại Việt Nam kể từ những thế kỷ đầu đến thế kỷ thứ mười, các kinh điển Đại thừa đã được truyền lưu rộng rãi trong mọi thành phần xã hội.

Tuy nhiên, các Phật kinh bằng Hán văn có mặt đầy đủ tại Việt Nam phải đến năm 1009, khi Lê Long Đỉnh lên ngôi năm 1007 đã cử em mình là Lê Minh Xưởng và Hoàng Thành Nhã sang Trung Quốc xin thỉnh Đại Tạng Kinh và Đại Tạng Kinh đã được đưa về nước năm 1009. 

Đại Tạng Kinh này do Tống Thái Tổ ra lệnh khắc in năm 971, cho đến năm 983 dưới triều Tống Thái Tông mới hoàn thành.

Như vậy, vào năm 1009 tại Việt Nam đầu tiên có Đại Tạng Kinh bằng chữ Hán.[13]

Và như vậy, các kinh Phật bằng Phạn bản được dịch sang Hán kể từ những thế kỷ đầu đến thế kỷ thứ mười, bởi các cao tăng Ấn Độ, Trung Hoa và Việt Nam đều có khắc in ở trong Đại Tạng Kinh đời Tống, và Đại Tạng Kinh này đã có mặt tại Việt Nam lúc bấy giờ, làm cơ sở cho tăng ni và phật tử lúc bấy giờ nghiên cứu và tu học.

Chú thích:

[4] Lê Mạnh Thát - LSPGVN T.1, tr 26, nxb Thuận Hóa, 1999.

[5] Lê Mạnh Thát - Nghiên cứu về Mâu Tử tập 1,tr 65, Tu Thư Vạn Hạnh, 1982.

[6] Lê Mạnh Thát - Tổng Hợp Văn Học PGVN Tập 1, tr. 180, 181, 198, 200, nxb TP Hồ Chí Minh 2001.

[7] Phí Trường Phòng, Tùy, Lịch Tam Bảo kỷ 5, Đại Tạng Tân Tu 49, tr 56.- Đạo Tuyên, Đường, Đại Đường Nội Điển Lục 2, Đại Tạng Tân Tu 55, Tr 227.-Trí Thăng, Đường, Khai Nguyên Thích Giáo Lục 2, Đại Tạng Tân Tu 55, Tr 491.-Minh Toàn (Thuyên ), Đường, Đại Châu San Định Chúng Kinh Mục Lục 2, Đại Tạng Tân Tu 55, Tr 385.

[8] Phẩm Phật Quốc - Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, Cưu Ma La Thập dịch, tr. 537, Đ.T Tân Tu 14.

[9] Đại Thừa Phương Đẳng Tổng Trì Kinh, tr 381, Đại Tạng Tân Tu 9.

[10] Lê Mạnh Thát - Lịch Sử PGVN 2, tr 113 - 114, nxb TP Hồ Chí Minh, 2001.

[11] Tham khảo - Hà Văn Tấn, Từ một cột trụ Kinh Phật năm 937 vừa phát hiện ở Hoa Lư, Nghiên Cứu Lịch Sử 1 (1965), tr. 39-50 .- Hà Văn Tấn, Cột Kinh Phật thứ 2, ở Hoa Lư, trong theo dấu ấn các văn hóa cổ, Hà Nội, nxb KHXH, 1998, tr. 816-832

[12] Lê Mạnh Thát - Lịch Sử PGVN 2, tr 428, nxb TP Hồ Chí Minh 2001.[13] Sđd, tr 520 - 521.

Tìm kiếm