Trú tâm tỉnh giác để sống đời an lạc

Sự phát triển của thời đại công nghệ số, cám dỗ vật chất và những thách thức từ khủng hoảng môi trường, dịch bệnh, kinh tế, xã hội,… khiến con người mỏi mệt và đầy lo toan.

Trước nhịp sống hối hả đó, đã có không biết bao mảnh đời lầm đường lạc lối và khổ đau. Họ muốn tìm những năng lượng yêu thương và đồng cảm, những phút giây bình yên và không bị lôi cuốn theo các pháp hiện tại để sống đời an lạc hơn.

Khổ đau từ lối sống phóng dật

Trong Kinh Pháp Cú, phẩm Không Phóng Dật, bài kệ số 21 ghi rằng:

“Không phóng dật, đường sống,

Phóng dật là đường chết,

Không phóng dật, không chết,

Phóng dật như chết rồi” [1].

Hằng ngày, con người sống vội vã trong ăn uống, nấu nướng, tắm giặt, giao tiếp, ngủ nghỉ,… Vì sao như thế? Bởi họ sợ không kịp thời gian, lo chạy đua với cuộc sống vật chất và mong muốn một tương lai tươi sáng. Trong cuộc rong ruổi tìm cầu đó, đã có không ít người khổ đau và tuyệt vọng trước những nghịch cảnh tự thân hoặc ăn năn trước việc sa đọa vào những tệ nạn xã hội. Trong Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt, Đức Phật đã dạy cho Thi-ca-la-việt về sáu nguyên nhân phung phí tài sản:

1. Đam mê các loại rượu sẽ khiến tài sản tổn thất, đấu tranh tăng trưởng, bệnh tật dễ xâm nhập, ảnh hưởng danh dự, trí lực tổn hại,…

2. Du hành đường phố phi thời sẽ ít ai che chở, vợ con không được bảo bọc, tài sản không được bảo quản, bị tình nghi với các việc xấu ác, nạn nhân của tin đồn, tự rước vào thân nhiều khổ não.

3. La cà đình đám ở những nơi hát, múa, nhạc, tán tụng, trống,…

4. Đam mê cờ bạc sẽ sanh tâm oán khi thắng hoặc sầu lo khi thua, tài sản tổn thất, lời nói nơi pháp đình không hiệu lực, bạn bè khinh chê, ảnh hưởng hôn nhân.

5. Thân cận bạn ác để loạn hành, cờ bạc, nghiện rượu, trá ngụy, bạo động và lừa gạt.

6. Lười biếng khi thời tiết quá nóng hay quá lạnh, hoặc việc làm quá sớm hay quá trễ, hoặc khi bụng quá đói hoặc quá no [2].

Vì sống buông lung theo năm dục (tiền tài, sắc đẹp, danh lợi, ăn uống và ngủ nghỉ), không tin Nhân quả Nghiệp báo: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” [3], khiến biết bao thói hư tật xấu, những tập khí bất thiện, nghiệp chướng đã và đang gây tạo, những lối suy nghĩ tiêu cực cùng các việc làm sai trái,… gây phiền khổ cho ta. Nguồn gốc khổ đau đó được Đức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái” [4]. Trong nhiều bài pháp, Đức Phật đã giảng về cách tu tập chuyển hóa để con người có đời sống hạnh phúc hơn.

Bao chuyện u hoài trong quá khứ, nhiều nỗi đau âm ỉ hiện về khiến lòng người tái tê, quằn quại. Buông xả để thanh lọc nội tâm và cũng là phương thức vươn lên, khắc phục khiếm khuyết của chúng ta.

Bao chuyện u hoài trong quá khứ, nhiều nỗi đau âm ỉ hiện về khiến lòng người tái tê, quằn quại. Buông xả để thanh lọc nội tâm và cũng là phương thức vươn lên, khắc phục khiếm khuyết của chúng ta.

Hai phong cách thiền trong chánh niệm

Tức là, trong sinh hoạt hàng ngày, người đó phải rõ biết pháp thiện và bất thiện để tinh tấn hành trì, nhiếp phục ba nghiệp không gây tạo các điều tội lỗi; đồng thời thực hành bốn nhiếp pháp như bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Trong bốn pháp nhiếp phục đó, pháp thí là hơn hết trong bố thí, thuyết pháp là hơn hết trong ái ngữ, khuyến tấn người an trú đối với niềm tin, bố thí, trì giới và trí tuệ là hơn hết trong lợi hành, tu tập với các vị chứng quả đồng phạm hạnh là hơn hết trong đồng sự [14]. Bằng năng lượng an lành, không sợ hãi, hành giả sẽ không gây áp lực, chống trái hoặc hãm hại người khác, mà luôn hộ trì mình và người bằng tình thương an lạc trong hiện tại và mai sau.

Thứ ba là phát triển thiện pháp và năng lượng bình an, ai trong đời cũng có những phút giây lầm lỗi, đối diện khổ đau, để rồi lo nghĩ vẩn vơ, không liên hệ gì đến thiện pháp. Nếu hồi đầu cảnh tỉnh, tập buông xả những ký ức khổ đau sẽ là một liệu pháp điều phục tâm bệnh. Bao chuyện u hoài trong quá khứ, nhiều nỗi đau âm ỉ hiện về khiến lòng người tái tê, quằn quại. Buông xả để thanh lọc nội tâm và cũng là phương thức vươn lên, khắc phục khiếm khuyết của chúng ta. Người đó dứt trừ tham chấp, không để những điều bất thiện hay tệ nạn xã hội làm che mờ lý trí, không dung túng những tập khí xấu ác làm khổ đau cho mình và mọi người. Ta tự hứa với lòng không được sa lầy vào hố sâu tội lỗi hay những thói hư tật xấu, nguyện nỗ lực thực hành các thiện pháp như: “Ly sát sanh, ly thâu đạo, ly tà dâm, không vọng ngôn, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ, ly tham, ly sân, ly si” [15].

Hằng ngày, hành giả sống không phóng dật, hộ trì các căn, không chạy theo năm dục, siêng năng thực tập thiền định để tăng sức định tĩnh, kinh hành tạo ra sự an ổn thư thái, niệm Phật để gia tăng an định, từ thiện hoặc cúng dường để tạo niềm an vui tích cực, nghe pháp để định hướng tu tập,… Đức Phật cũng đã từng bảo rằng: Sự an lạc về sở hữu vật chất chỉ bằng một phần mười sáu những an lạc, hạnh phúc về mặt tinh thần [16]. Tiêu biểu như Tổng Hạnh phúc Quốc gia (Gross National Happiness) của đất nước Bhutan cũng đề cập đến việc cảm thọ hạnh phúc tinh thần.

Tóm lại, hạnh phúc hay khổ đau đều do chính chúng ta quyết định. Đừng buông lung theo năm dục, chấp chặt vào năm uẩn và gây ra nhiều điều bất thiện để rồi phải gánh chịu nhiều điều khổ đau. Vươn lên từ vấp ngã, hành giả nói riêng và mọi người nói chung siêng năng làm các việc phước thiện, sống trọn vẹn và an vui trong từng phút giây hiện tại, từng bước hoàn thiện đạo đức tự thân, góp phần kiến tạo cõi Tịnh độ giữa nhân gian, lợi lạc cho mình và cho mọi người.

Chú thích:

[1]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2018), Kinh Tiểu Bộ, tập 1, Kinh Pháp Cú, Thích Minh Châu (dịch), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.44.

[2]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2018), Kinh Trường Bộ, Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt, Thích Minh Châu (dịch), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.622-623.

[3]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2018), Kinh Tăng Chi Bộ, tập 1, chương 5, phẩm Triền cái, Kinh Sự Kiện Cần Phải Quan Sát, Thích Minh Châu (dịch), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.672.

[4]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2018), Kinh Tương Ưng Bộ, Đại phẩm, chương Tương ưng sự thật, phẩm Chuyển pháp luân, Kinh Như Lai Thuyết, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.783.

[5]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2017), Kinh Trung Bộ, tập 2, Kinh Nhứt Dạ Hiền Giả, Thích Minh Châu (dịch), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.519-520.

[6]. Kinh Nhứt Dạ Hiền Giả, tr.521.

[7]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2017), Kinh Trung Bộ, tập 2, Kinh A-Nan Nhứt Dạ Hiền Giả, Thích Minh Châu (dịch), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.524.

[8]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2017), Kinh Trung Bộ, tập 2, Kinh Đại Ca-Chiên-Diên Nhứt Dạ Hiền Giả, Thích Minh Châu (dịch), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.534.

[9]. Thích Hạnh Tuệ (2017), Hạnh phúc minh trần, Nxb. Lao động, Hà Nội, tr.29.

[10]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2018), Kinh Tương Ưng Bộ, tập 3, chương Tương ưng uẩn, phẩm Gánh nặng, Kinh Gánh Nặng, Thích Minh Châu (dịch), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.657.

[11]. Thích Hạnh Tuệ (2017), Sđd., tr.166.

[12]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2018), Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, chương Chín pháp, phẩm Chánh giác, Kinh Những Sức Mạnh, Thích Minh Châu (dịch), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.447.

[13]. Kinh Những Sức Mạnh , tr.446.

[14]. Kinh Những Sức Mạnh, tr.446-447.

[15]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2018), Kinh Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, Thích Minh Châu (dịch), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.688.

[16]. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền (2018), Kinh Tăng Chi Bộ, tập 1, chương Bốn pháp, phẩm Nghiệp công đức, Kinh Không Nợ, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.413.

Tìm kiếm